Hàm Sư tử

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Chỉ tính cách hung hãn, hay ghen tuông của người đàn bà (đặc biệt người vợ): "Hàm Sư tử" một thành ngữ, dùng để von tính khí dữ dằn, hay ghen lấn át chồng của một người phụ nữ, giống như tiếng gầm uy nghiêm của con sư tử.
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • ấy nổi tiếng một "hàm sư tử" trong xóm, khiến chồng lúc nào cũng phải chừng.
    • Câu chuyện về Liễu thị - người vợ hay ghen của Trần Tháo - đã trở thành điển tích cho cụm từ "hàm sư tử".
Các cách sử dụng nâng cao
  • Thành ngữ "Hàm Sư tử" thường được dùng với sắc thái hài hước, châm biếm hoặc mỉa mai để chỉ tính cách của người phụ nữ.
    • Anh ta sống dưới "hàm sư tử" của vợ nên chẳng dám đi đâu về khuya.
  • Cụm từ này thường xuất hiện trong văn chương, thơ ca cổ điển hoặc lối nói von, ít dùng trong ngữ cảnh trang trọng, hiện đại.
Biến thể từ gần giống
  • Sư tử Đông: Cách gọi khác, xuất phát trực tiếp từ bài thơ của Thức.
    • Nghe tiếng "sư tử Đông" gầm lên, ai nấy đều sợ hãi.
  • Vợ hai đòi làm cả: Thành ngữ chỉ người phụ nữ tính cách lấn lướt, muốn chi phối mọi thứ ( phần tương đồng về ý lấn át).
Từ đồng nghĩa
  • Đàn bà hay ghen: Cách nói thông thường, trực diện hơn.
  • Mẹ hổ: Cách von hiện đại hơn, chỉ người mẹ/người vỹ nghiêm khắc, mạnh mẽ (có thể không mang nghĩa ghen tuông).
Thành ngữ liên quan
  • " Đông nữ nhi thân tích liễu": Câu thơ của Đỗ Phủ, nghĩa là "Người con gái đất Đông họ Liễu". Đây điển tích gốc Thức đã mượn ý để sáng tạo ra hình ảnh "hàm sư tử"/"sư tử Đông".
  • Ghen như Hoạn Thư: Thành ngữ khác cũng chỉ lòng ghen tuông của người đàn bà, lấy từ nhân vật Hoạn Thư trong "Truyện Kiều".
  1. Chỉ tính hung hãn, ghen tuông của người đàn bà, cái oai dữ của người vợ cả
  2. Truyền Đăng Lục: Trần Tháo thường cùng Thức luận bàn về bút pháp về sự thành bại của cổ kim, rất thích đạo phật, đã từng ăn rau, ở chùa, không màng đến thế sự. Vợ Tháo Liễu thị, tính hung hãn hay ghen. Mỗi lần Tháo mở tiệc mời khách, nếu ca kỹ đến hát xướng mua vui thì Liễu thịnhà sau máu ghen nỗi lên, lấy gậy đánh sàn sạt vào tường, gầm thét om sòm, khách không chịu nỗi phải bỏ ra về. Thức nhân đấy mới thơ đùa TrầnTháo :
  3. "Thùy tự long khâu hiền
  4. Đàm không thuyết hữu dạ bất miên
  5. Hốt văn đông sư tử hống
  6. Trụ trương lạc thủ tam mang nhiên. (Ai hiền như đất Long Khâu, bàn về thuyết không thuyết của nhà phật đêm không ngũ, bổng nghe sư tử Đông rống lên, gậy chống rơi khỏi tay, lòng bàng hoàng quên phắt đi hết)
  7. dựa thơ Đỗ Phủ: " Đông nữ nhi thân tích liễu." (Người con gái đất Đông họ Liễu)
  8. Thức đã mượn chữ Đông để chỉ Liễu thị vợ Tháo, còn Sư tử hống tiếng nhà Phật để nói uy nhiêm của phật tổ, nói giọng thuyết pháp của Phật âm thanh chấn động thế giới như sư tử gầm. Nay Trần Tháo thích đàm luận đạo Phật. Thức bèn mượn tiếng nhà Phật để đùa, chỉ cái tính hung hãn hay ghen của Liễu thị